Tám mươi hai tấm bia

Văn Miếu Hà Nội, xây năm 1070, thờ Khổng Tử. Năm 1076, bên cạnh lập Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên của Việt Nam.

Trong sân có tám mươi hai tấm bia đá, dựng trên lưng rùa đá. Trên bia khắc tên và quê quán những người đỗ tiến sĩ trong các kỳ thi từ năm 1442 đến năm 1779. Năm 2010, được ghi vào Danh mục Ký ức Thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương của UNESCO, năm 2011, được ghi vào Danh mục Ký ức Thế giới.

Bia tiến sĩ ở Văn Miếu Hà Nội

Bia tiến sĩ dựng trên lưng rùa đá ở Văn Miếu Hà Nội. Nguồn: Wikimedia Commons, Mig Gilbert, CC BY-SA 2.0

Số tiến sĩ trên bia là bao nhiêu, mấy nguồn tôi tìm được cho những con số không giống nhau, nên ở đây không viết.

Mỗi năm có hàng nghìn, hàng vạn người bước vào sân này, phần đông không đọc được chữ trên bia.

Hãy nghĩ đến cảnh ấy: một người trẻ Việt Nam, đứng trước một tấm bia đá, giơ điện thoại chụp, gửi cho bạn bè. Trên bia khắc tên một người đỗ tiến sĩ cách đây năm trăm năm. Anh chụp rất cẩn thận, nhưng không đọc được cái tên ấy. Cái tên ấy là người hàng xóm của tổ tiên anh.

Câu đối Tết

Năm 2016, tờ báo tiếng Anh của Việt Nam, Viet Nam News, có đăng một bài: dịp Tết, trước cổng Văn Miếu, có người viết câu đối bán. Người mua rất đông. Phần lớn người mua không đọc hiểu chữ viết trên đó, cũng không biết nghĩa.

Câu đối Tết viết những chữ như Phúc, Lộc, Thọ, họ nhận ra hình dáng, nhận ra màu đỏ, nhận ra ngày Tết.

Ông đồ viết chữ ở Văn Miếu

Một ông đồ ở Văn Miếu Hà Nội đang viết thư pháp. Nguồn: Wikimedia Commons, Rungbachduong, CC BY-SA 3.0

Năm 1936, nhà thơ Việt Nam Vũ Đình Liên viết bài thơ "Ông đồ": mỗi năm khi hoa đào nở, ông đồ già bày giấy mực ra, viết câu đối bên đường. Người qua đường mỗi năm một ít. Đó là chuyện của hơn tám mươi năm trước. (Thơ gốc là tác phẩm hiện đại, không trích.)

Nó từ đâu đến

Việt Nam khác bán đảo Triều Tiên, ở đây không phải do nhà nước chủ động đặt chữ xuống.

Việt Nam dùng chữ Hán gần một nghìn năm. Từ thế kỷ 10, văn thư chính thức viết bằng Hán văn. Từ thế kỷ 13, 14, lại có chữ Nôm: dùng bộ phận của chữ Hán để ghi tiếng Việt. Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19, người có học dùng chữ Nôm viết các tác phẩm dân gian.

Chữ Quốc ngữ, ở thế kỷ 17, do các nhà truyền giáo phương Tây dùng chữ cái La-tinh để ghi âm tiếng Việt. Người Pháp, trong hai mươi năm đầu thế kỷ 20, đã thúc đẩy nó. Năm 1910, chữ Quốc ngữ được yêu cầu sử dụng (nguồn thứ cấp); năm 1919, kỳ thi khoa cử cuối cùng được tổ chức ở Huế, vua Khải Định ban chiếu bãi bỏ nền giáo dục Nho học.

Từ đó, trường học dạy chữ Quốc ngữ.

Cổng chính Văn Miếu Hà Nội

Cổng chính Văn Miếu Hà Nội. Nguồn: Wikimedia Commons, Daderot, CC0

Những con số

"Trên toàn thế giới, số học giả đọc được chữ Nôm chưa đến một trăm người." Cách nói này xuất phát từ Quỹ Bảo tồn Chữ Nôm Việt Nam (lập năm 1999) và một trang web về các loại chữ viết nguy cấp. Nó nói về chữ Nôm, không phải chữ Hán; "học giả" là đọc trôi chảy, hay đọc ra được, không được viết rõ. Tôi không tìm được thống kê gốc, đành thuật lại đúng lời của nó.

Viện Hán Nôm, lập năm 1970 ở Hà Nội, thu thập khoảng hai vạn cuốn sách cổ (nguồn thứ cấp, con số chờ kiểm tra).

Chuyên gia của viện từng nói một việc: hiện nay, trong trường học dạy văn học cổ điển, dùng bản chuyển tự sang chữ Quốc ngữ, không phải nguyên văn Hán Nôm, vì thế trong giảng dạy đã xuất hiện sai sót.

Báo chí Việt Nam còn đưa tin: ở tỉnh Vĩnh Phúc, có một lớp Hán Nôm, học viên là những người già.

Điều tôi nghĩ đến

Có một điều tôi không nói rõ được. Hàn Quốc là một đất nước, năm 1970, đã chọn một con đường. Con đường này của Việt Nam là do người khác đẩy, về sau chính mình cũng đi quen. Chữ viết mới khiến việc biết chữ trở nên dễ dàng. Đó là lý do người ủng hộ chữ Quốc ngữ thường nói, tôi chưa kiểm số liệu. Tôi không muốn phản đối nó, một đất nước đã dạy gần như tất cả mọi người biết chữ, tôi rất kính trọng.

Nhưng bia vẫn đứng đó. Cái tên là tên của tổ tiên, không đọc được, là một kiểu mất mát khác: không phải vì không biết chữ, mà vì những chữ ấy không có trong trường học. Trong lớp Hán Nôm ở tỉnh Vĩnh Phúc, người ngồi là người già, mỗi lần nghĩ đến, tôi đều thấy hơi chua xót: một nhóm người tóc đã bạc, ngồi trong một lớp học nhỏ, từng nét một, vẽ lại một chữ mà ông của chính họ, có lẽ từng viết.

Nhìn theo chiều ngược lại

Thứ nhất, người Việt đọc phần nhiều là bản dịch. Đọc bản dịch không có nghĩa là không đọc. Đó là một cách đọc.

Thứ hai, với việc "đưa Hán Nôm vào trường phổ thông", trong nước Việt Nam có những ý kiến khác nhau. Người ủng hộ nói, để hiểu lịch sử, hiểu nghĩa gốc của từ. Người phản đối nói, chữ quá khó, học sinh nặng gánh, giáo viên cũng không đủ. Một phụ huynh nói, Hán Nôm và chữ La-tinh là hai hệ thống ngôn ngữ hoàn toàn khác nhau.

Thứ ba, một thứ chữ chỉ dựa vào âm đọc là học được, đã khiến một đất nước, trong vài chục năm, gần như ai cũng biết chữ. Được và mất, khó tính.

Chủ trương của tôi ở đây nói thế nào

Chữ Hán của một nghìn năm, trong một trăm năm, ở Việt Nam, đã thành "thứ phải học riêng". Nếu "lõi" phải dựng bằng một bộ chữ và kinh điển chung, thì người Việt đứng ngoài cửa, hay đứng trong cửa? Câu trả lời của tôi: ở ngoài cửa, nhưng cánh cửa có thể được mời mở ra. Việt Nam có chữ Hán và chữ Nôm của một nghìn năm, là của chính họ, không phải của ai khác. Ở ngoài cửa, là vì một trăm năm qua trường học không dạy; không phải vì họ không muốn. Một ngày nào đó, nếu một người Việt muốn biết trên một tấm bia ở Văn Miếu Hà Nội viết tên ai, cánh cửa ấy có người sẵn lòng giúp anh mở. "Có người" này, không nhất thiết là một tổ chức, có thể là một ông đồ, một thầy giáo, một người ngồi ngay cạnh anh trong lớp Hán Nôm.

Gửi những người bạn Việt Nam. Trong sân Văn Miếu Hà Nội có tám mươi hai tấm bia dựng trên lưng rùa đá, khắc tên những người đỗ tiến sĩ năm trăm năm trước; mỗi năm hàng nghìn, hàng vạn người bước vào, phần đông không đọc được. Tết đến, trước cổng có ông đồ viết câu đối, người mua rất đông: họ nhận ra màu đỏ, nhận ra phúc lộc thọ, nhận ra Tết. Ở Vĩnh Phúc có một lớp Hán Nôm, người ngồi trong đó đều là những người già tóc bạc. Tổ tiên các bạn còn có một tay nghề nữa: tháo các bộ phận của chữ Hán ra, từng nét một ghép thành chữ Nôm, viết lời của chính mình, và viết như thế suốt mấy trăm năm. Sự khéo léo ấy, tôi muốn nhiều người hơn được biết.


Bia vẫn đứng đó. Số người đọc được phải nhiều đến mức nào thì mới tính là nó vẫn đang được đọc?


Tài liệu tham khảo

  • Đọc đối chiếu: trong loạt bài này, "Sau Boat People" (nguồn gốc chữ Quốc ngữ), "Không đọc được chữ của tổ tiên" (Hàn Quốc), "Chữ vẫn còn, mà đọc không ra" (Nhật Bản)
  • Văn Miếu Hà Nội, 82 tấm bia tiến sĩ, 1919 bãi bỏ khoa cử, chữ Quốc ngữ 1910, Viện Hán Nôm, "chưa đến 100 người" (quỹ bảo tồn, phạm vi không rõ), câu đối Tết 2016 trên Viet Nam News, lớp Hán Nôm ở tỉnh Vĩnh Phúc, bài thơ "Ông đồ" năm 1936
  • Nguồn hình ảnh ghi trong chú thích từng hình